Category: BÀI VIẾT

Tín chấp và pháp luật về tín chấp

Nếu các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ những căn cứ khác nhau, các căn cứ này có thể là sự thỏa thuận, có thể là do quy định của pháp luật, thì biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ có thể phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên trong một giao dịch dân sự. Theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 318 BLDS 2005 thì tín chấp được coi là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự. Văn phòng luật sư Bình Dương xin nói rõ thêm về khía cạnh pháp lý này

Tín chấp là việc tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ.

Tín chấp và pháp luật về tín chấp

Các quy định về biện pháp tín chấp trong BLDS chỉ dừng ở việc quy định nguyên tắc, chưa thật chi tiết, cụ thể về khái niệm của tín chấp, tín chấp chỉ là việc “tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác …”. Theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm thì tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phối hợp với tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp trong việc cho vay và thu hồi nợ và có quyền yêu cầu tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp phối hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc trả nợ (Điều 53 và 54 Nghị định 163/2006/NĐ-CP).

Về đối tượng được vay, BLDS chỉ đề cập đến cá nhân, hộ gia đình nghèo. Theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì cá nhân, hộ gia đình nghèo được bảo đảm bằng tín chấp phải là thành viên của một trong các tổ chức chính trị – xã hội (Điều 49). Những người này có nghĩa vụ:

Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết

Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị – xã hội kiểm tra việc sử dụng vốn vay

Trả nợ đầy đủ cả gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng

Hiện nay BLDS chưa quy định rõ về vai trò cụ thể của tổ chức đứng ra bảo đảm tín chấp. Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định chi tiết hơn về quyền và nghĩa vụ của tổ chức chính trị – xã hội đứng ra tín chấp. Ở đây, những tổ chức này có nghĩa vụ:

  • Xác nhận theo yêu cầu của tổ chức tín dụng về điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, hộ gia đình nghèo khi vay vốn tại tổ chức tín dụng đó
  • Chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn; giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức tín dụng

Những tổ chức tín dụng này có quyền từ chối bảo đảm tín chấp, nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, làm dịch  vụ và trả nợ cho tổ chức tín dụng.

Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự sinh ra để phục vụ cho nghĩa vụ dân sự. Do đó, nó tồn tài bên cạnh nghĩa vụ dân sự được bảo đảm. Tín chấp là một biện pháp mang tính dự phòng. Nghĩa là chỉ áp dụng khi nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng.

 

Văn phòng luật tư vấn về tín chấp
Với những định nghĩa trên, có thể thấy tín chấp và pháp luật về tín chấp không hẵn đơn giản là dựa vào uy tín như nhiều người lầm tưởng, sẽ dễ dàng phát sinh tranh chấp khuất mắc nếu không thực sự hiểu rõ về khía cạnh pháp lý này. Để được tư vấn rõ hơn về nó, hãy liên lạc với văn phòng luật Trường Thành, với đội ngũ luật sư uy tín tại Bình Dương, chúng tôi sẽ cùng giải quyết những vấn đề, khúc mắc pháp lý cũng như đem đến quyền lợi cao nhất cho khách hàng
Liên hệ với chúng tôi qua

0913.824.147 
Truongthanh.lawoffice@gmail.com

Xác định lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Lỗi là một yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lí của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó. Nói người gây ra thiệt hại phải có lỗi tức là người đó thấy hoặc phải có nghĩa vụ phải thấy trước được hành vi của mình có thể gây thiệt hại cho người khác và hành vi đó là trái pháp luật. Dưới đây là đôi ý của chuyên viên tư vấn về hợp đồng tại Bình Dương chia sẻ khái quát về khía cạnh pháp lý này.

Lỗi còn là yếu tố để xác định một thiệt hại cần phải bồi thường hay không, hành vi gây ra thiệt hại có thể là hành vi vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng hoặc là hành vi trái pháp luật hay không. Vì vậy, trong trách nhiệm bồi thường thiệt  hại ngoài hợp đồng, chứng minh người gây thiệt hại phải có lỗi là một trong các điều kiện cần, để làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

lỗi bồi thường thiệt hại 1

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì dù người gây thiệt hại có lỗi cố ý hay vô ý đều phải bồi thường, vì người gây ra thiệt hại trước khi tiến hành một công việc nào đó phải có nghĩa vụ thấy trước các tác hại có thể xảy ra và phải áp dụng những biện pháp đề phòng. Trước khi thực hiện hành vi người thực hiện phải có nghĩa vụ ý thức được hành vi của mình có thể gây thiệt hại hay không, do đó phải chịu trách nhiệm trước bất kì hình thức nào khi thực hiện hành vi đó. Từ đó có thể kết luận rằng lỗi là một cơ sở pháp lí cho việc bồi thường thiệt hại.

Lỗi cố ý và lỗi vô ý

Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại xảy ra hoặc có thể có trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Có quan điểm cho rằng, các cá nhân trong xã hội đều có quyền được bảo đảm về tính mạng, tài sản cho nên mỗi khi có sự tổn hại xảy ra, người gây thiệt hại đương nhiên phải bồi thường. Trách nhiệm dân sự được xây dựng trên cơ sở lỗi sẽ là giải pháp vừa thỏa mãn đạo lý vừa hợp với lợi ích công cộng.

Mức bồi thường thiệt hại

Điều 605 BLDS 2005 có quy định về mức bồi thường theo nguyên tắc như sau

Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, hoặc hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây ra thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình

Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường

lỗi bồi thường thiệt hại

Khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây ra thiệt hại gồm: Tài sản hiện có, thu nhập hiện tại và tài sản, thu nhập sau này. Nếu có đủ cơ sở để đánh giá mức độ thiệt hại không phải là quá lớn với khả năng kinh tế lâu dài của người gây ra thiệt hại thì họ vẫn phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Điểm c Khoản 2.2 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP cũng nêu rõ: “Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều kiện sau đây:

Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại;

Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt cũng như về lâu dài họ không thể có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó.”

Như vậy, xác định lỗi vô ý hay cố ý của người gây thiệt hại có thể ảnh hưởng tới mức độ bồi thường thiệt hại. Cơ sở xác định lỗi cũng là một điểm đáng lưu ý.

Văn phòng luật tư vấn về hợp đồng
 Để được tư vấn, bảo vệ quyền lợi pháp lý dễ dàng nhất cũng như tiết kiệm chi phí nhất, khách hàng nên chọn cho mình một luật sư giỏi hoặc một văn phòng luật uy tín tại địa phương.  Tại Bình Dương và các vùng lan cận, hãy đến với Trường Thành, là một văn phòng luật lâu năm tại Bình Dương với đội ngũ luật sư tận tụy, kinh nghiệm, chúng tôi đảm bảo quyền lợi pháp lý cao nhất cho khách hàng
Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

0913.824.147 
Truongthanh.lawoffice@gmail.com

Bảo đảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trong đời sống hàng ngày thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của công dân, tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức có thể xảy ra dưới nhiều tác động khác nhau. Cũng có thể đó là những tác động khách quan song cũng có thể do hành vi trái pháp luật của cá nhân mang lại. Do đó nhà nước đã phải sử dụng nhiều biện pháp pháp luật khác nhau để ngăn chặn và khắc phục những hậu quả đó. Văn phòng luật sư Bình Dương Trường Thành xin chia sẻ ý kiến về vấn đề này

Quy định từ Bộ Luật Dân sự

Điều 604 của BLDS 2005 quy định “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Như vậy, một người gây thiệt hại cho người khác thì giữa những người gây thiệt hại và người bị thiệt hại phát sinh một mối quan hệ pháp luật; trong đó người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường ngược lại người gây ra thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại mà mình đã gây ra. Quan hệ pháp luật đó gọi là nghĩa vụ phát sinh do gây thiệt hại hay còn gọi là trách nhiệm bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng.

Luật sư tư vấn luật hợp đồng thường nêu rõ: trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không chấp hành hoặc chấp hành không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng. Đặc điểm của loại trách nhiệm này là giữa hai bên, bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại phải có quan hệ hợp đồng có hiệu lực và sự thiệt hại phải có quan hệ hợp đồng.bồi-thường-thiệt-hại-đồng

Như vậy, khi gây thiệt hại về tính mạng sức khỏe thì dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không có quan hệ hợp đồng thì thực tiễn xét xử đều áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Có ý kiến cho rằng tr