Người đã mất có được quên nghĩa vụ khi còn sống của mình hay không?

Dạo gần đây khi lướt những trang web tin tức, báo đài, chúng ta thường bắt gặp những câu chuyện ngoại tình tay ba và câu hỏi đặt ra với giả thuyết rằng nếu người chồng trước khi chết để lại di chúc cho người tình được hưởng toàn bộ khối tài sản của mình. Vậy thì, người vợ và những đứa con nhỏ không được hưởng gì ư? Việc phân chia tài sản vợ chồng trong trường hợp này ra sao? Văn phòng luật sư Bình Dương xin chia sẽ câu trả lời về luật thừa kế này

Tài sản riêng và tài sản chung giữa vợ và chồng

Theo luật Hôn nhân gia đình 2014 và nội dung được hướng dẫn tại Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định như sau:

“Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
– Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó”.

 phân chia tài sản vợ chồng

Như vậy, tài sản trước khi kết hôn là tài sản của riêng mỗi người. Ngược lại, tài sản sau khi kết hôn là tài sản chung của cả hai vợ chồng. Vì thế, chúng ta cần phải xác định, phân chia rõ tài sản riêng và chung của hai vợ chồng để dễ dàng phân chia di sản theo di chúc người chồng.

Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2014, khi một bên vợ hoặc chồng chết, tài sản chung sẽ được chia đôi. Vì vậy, sau khi người chồng chết, toàn bộ tài sản chung của hai vợ chồng sẽ được chia đôi, một nửa thuộc người vợ, nửa còn lại sẽ được xác định là di sản thừa kế của người chồng.

Nghĩa vụ của người chồng đã mất

Khi luật sư tư vấn luật thừa kế thường xuyên nhân được câu hỏi: “Nghĩa vụ có mất khi chồng/ vợ mất?” Câu trả lời là không. Người chồng đã mất không được quên nghĩa vụ của mình. Khoản 1 Điều 680 quy định: “Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng thừa kế di sản”. Vì thế, cho dù tài sản chung giữa 2 vợ chồng đã chia khi hôn nhân còn tồn tại, mà người chồng chết  thì người vợ vẫn được hưởng thừa kế di sản của người chồng.

 phân chia tài sản vợ chồng

Theo Điều 669 BLDS quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”.

Điều luật này ra đời để đảm bảo nghĩa vụ của người đã mất. Người chồng tuy đã mất vẫn phải có nhiệm vụ chăm sóc vợ con cũng như cha mẹ của mình (nếu còn sống) theo pháp luật, cũng như theo đạo nghĩa. Vì vậy những người con chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động, người vợ hoặc cha mẹ (nếu còn sống) vẫn được hưởng di sản thừa kế của người chồng mặc dù trong di chúc không đề cập đến. Và mỗi người sẽ được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Vì vậy người tình hay vợ bé, vợ không chính thức của người chồng sẽ không được nhận toàn bộ di sản thừa kế của người chồng, mà di sản thừa kế sẽ được chia theo quy định của pháp luật. Người chồng tuy đã mất nhưng không được quyền quên đi nghĩa vụ của mình khi còn sống.

Văn phòng luật tư vấn về luật thừa kế
Còn có nhiều tình huống khác xảy ra ngoài đời sống có liên quan đến pháp lý về luật thừa kế,  những điều khoản, đề mục có thể khiến những ai không nghiên cứu chuyên sâu bối rối . Để hiểu rõ nhất những yếu tố pháp lý trong vụ sự của mình, hãy liên lạc với văn phòng luật sư uy tín gần nhất. Trong trường hợp bạn đang ở Bình Dương hoặc các vùng lân cân thì văn phòng luật Trường Thành Bình Dương sẵn sàng giải đáp những khúc mắc của bạn. Là văn phòng luật sư uy tín tại Bình Dương, chúng tôi đã cùng khách hàng đi đến cùng những vụ sự  về luật thừa kế nói riêng và pháp lý dân sự nói chung, giúp khách hàng có được kết quả như mong muốn. Hãy liên lạc với chung tôi theo thông tin

0650.3844.324 – 0913.824.147 
Truongthanh.lawoffice@gmail.com

Quy định về thừa kế theo pháp luật

Chắc hẳn chúng ta ai cũng còn nhớ việc vụ bà P. kinh doanh bún ở quận Tân Phú sở hữu khối tài sản gần 1000 tỷ đồng đột ngột ra đi mà không để lại di chúc, dẫn đến việc tranh chấp di sản giữa người con nuôi và 6 anh chị em của bà. Với khối tài sản lớn như vậy, việc tranh chấp giữa những người thừa kế khi không có di chúc là điều vẫn luôn xảy ra. Vụ việc này đã được đưa ra tòa xử kín và khiến cho dư luận tò mò về việc phân chia di sản thế nào với khối tài sản gần 1000 tỷ đồng. Qua vụ việc này, chúng ta thấy rằng nếu như bà P. sớm lập di chúc thì mọi việc đã không phải tốn quá nhiều thời gian, công sức và không cần phải có nhiều sự tham gia của các chủ thể khác. Đặc biệt là tình cảm giữa những người thừa kế, tức những người thân yêu của bà P. chắc chắn sẽ không còn được như xưa nữa, và đây là điều chắc chắn bà P. không bao giờ muốn.

Văn phòng luật uy tín ở Bình Dương xin chia sẻ về quy định về thừa kế theo pháp luật, tức là về việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp không có di chúc như trường hợp nêu trên.

Thế nào là thừa kế theo pháp luật? Những trường hợp nào thừa kế theo pháp luật?

phân chia tài sản thừa kế

BLDS quy định: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định” (Điều 674). Điều này có nghĩa là việc phân chia di sản của người mất sẽ được pháp luật phân chia theo quy định của pháp luật.

Theo Khoản 1 Điều 675 BLDS quy định: “Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản”.

Văn phòng luật tư vấn luật thừa kế thường trích điểm d Khoản 1 Điều 675 nêu trên khi nhắc đến trường hợp người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản thì di sản cũng sẽ được pháp luật phân chia theo quy định của thừa kế theo pháp luật. Vậy những trường hợp nào thì người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự, những người sau đây không được quyền hưởng di sản thừa kế:

“a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”.

Tuy nhiên, cũng theo Khoản 2 của Điều 643 quy định thì những người nêu ở Khoản 1 trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Pháp luật quy định về thừa kế theo pháp luật như thế nào?

phân chia tài sản thừa kế

“Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định” (Điều 674).

BLDS quy định về hàng thừa kế như sau:

“a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

  1. b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  2. c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”. (Khoản 1 Điều 676)

BLDS cũng quy định rằng những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản như nhau (Khoản 2 Điều 676) và những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản (Khoản 3 Điều 676).

Và như quy định nêu trên thì người con nuôi của bà P thuộc vào hàng thừa kế thứ nhất và được quyền thừa kế của bà với khối tài sản gần 1000 tỷ đồng. Tuy nhiên, người thân của bà P. không chịu vì họ cho rằng họ cũng có công tạo ra tài sản. Và tranh chấp diễn ra.

Văn phòng luật tư vấn về luật thừa kế
Trong bất kỳ vấn đề hay lĩnh vực pháp lý nào nói chung và thừa kế nói riêng, nếu bạn muốn có một luật sư hoặc Văn phòng Luật sư đứng ra bảo vệ hay tư vấn trên từng vấn đề, lĩnh vực thì bạn nên chọn luật sư đang hoạt động tại địa phương nơi xảy ra sự việc cần tư vấn, bảo vệ để giảm tối thiểu do chi phí đi lại. Ví dụ: nếu vụ việc xảy ra ở Bình Dương thì nên chọn Luật sư giỏi ở Bình Dương hoặc văn phòng luật sư uy tín tại Bình Dương được nhiều người tín nhiêm hoặc có kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn, tranh tụng về thừa kế tại Bình Dương, trong trường hợp Văn phòng Luật sư bạn chọn là văn phòng luật sư Trường Thành thi hãy liên lạc với chung tôi theo thông tin

0650.3844.324 – 0913.824.147 
Truongthanh.lawoffice@gmail.com

Quy định về tính hợp pháp của di chúc

Các vấn đề về phân chia di sản của người đã chết luôn gây nhiều tranh cãi. Tranh chấp di sản để lại giữa các thành viên trong gia đình là điều rất dễ xảy ra. Tuy nhiên, khi người đã chết để lại di chúc thừa kế thì việc xảy ra tranh chấp sẽ ít hơn so với khi không để lại di chúc thừa kế. Thế nên, việc lập di chúc là cần thiết với mọi trường hợp và mọi gia đình. Vậy khi nào thì có thể gọi là di chúc hợp pháp để đảm bảo tính pháp lý khi xảy ra tranh tụng? Văn phòng luật tại Bình Dương xin chia sẻ câu trả lời trong trường hợp này

Việc lập di chúc đã được pháp luật quy định cụ thể, nhằm tối thiểu các tranh chấp có thể xảy ra, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của người lập di chúc lẫn người được hưởng di sản. Các quy định về thừa kế theo di chúc được quy định ở BLDS 2005 và Luật hôn nhân và gia đình 2014. Tuy nhiên, các quy định chính vẫn được quy định chủ yếu ở BLDS 2005, từ Điều 646 đến Điều 673.

Bài viết này chủ yếu nói về tính hợp pháp của di chúc thừa kế.

Thế nào là di chúc đủ điều kiện hợp pháp? Người nào cũng có thể lập di chúc?

di chúc hợp pháp

Theo BLDS 2005, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết (Điều 646). BLDS cũng quy định người lập di chúc là người đủ 15 tuổi trở lên, có tài sản, phải nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Tuy nhiên,cần lưu ý rằng, người chưa thành niên, tức đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, khi lập di chúc phải được cha mẹ, hoặc người giám hộ đồng ý (Khoản 2 Điều 647 BLDS 2005) và để di chúc đó hợp pháp thì di chúc đó phải đáp ứng yêu cầu của quy định tại Khoản 1 Điều 652 BLDS, phải được lập thành văn bản và cũng phải được cha mẹ, hoặc người giám hộ đồng ý (Khoản 2 Điều 652 BLDS 2005).

Khoản 1 Điều 652 quy định như sau:

“Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật”.

Và Điều 653 quy định về nội dung của di chúc bằng văn bản như sau:

Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc”.

Điều này cũng có nghĩa rằng, nếu chứng minh được thời điểm lập di chúc của người lập di chúc bị đe dọa, cưỡng ép, không được minh mẫn, sáng suốt, bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác ảnh hưởng đến sự minh mẫn, không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình thì di chúc không hợp pháp (Khoản 1 Điều 647 và Điểm a Khoản 1 Điều 652 BLDS). Tuy nhiên, luật sư giỏi tư vấn luật thừa kế luôn lưu ý về thời hiệu khởi kiện về tranh chấp di sản thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (Điều 645).Hết thời hạn này, các thành viên liên quan không được quyền khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế nữa. Song, luật pháp luôn có những điều khoản khác để tìm ra phương án hợp tình hợp lý, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của người lập di chúc và người được hưởng di sản.

Di chúc bằng miệng có được xem là hợp pháp?

Khác với người chưa thành niên, di chúc của người thành niên, tức từ đủ 18 tuổi trở lên, khi bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản có thể được lập dưới hình thức bằng miệng (Điều 649 vàKhoản 1 Điều 651). Tuy nhiên, sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ (Khoản 2 Điều 651). Và để di chúc miệng này hợp pháp thì di chúc miệng này cũng phải đáp ứng được điều kiện tại khoản 1 Điều 652 và thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ (xem rõ hơn ở Điều 654 quy định về Người làm chứng cho việc lập di chúc và Điều 656 quy định về Di chúc bằng văn bản có người làm chứng). Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực (Khoản 5 Điều 652). Nếu không, di chúc miệng này cũng được xem là không hợp pháp.

di chúc hợp pháp

Với những người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ không thể lập di chúc bằng văn bản, phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực (Khoản 3 Điều 652). Tuy nhiên, nếu họ bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì cũng có thể lập di chúc miệng (Khoản 1 Điều 651).

Tính hợp pháp của bản di chúc khi không có công chứng, không ai biết

Điều 656 quy định về Di chúc bằng văn bản có người làm chứng, tuy nhiên, di chúc bằng văn bản này không có công chứng, chứng thực, chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 652 (Khoản 4 Điều 652).

Tuy nhiên, trong trường hợp người lập di chúc cố tình giấu di chúc, không cho ai biết, không có người chứng, cũng như không mang đi công chứng, chứng thực thì bản di chúc chỉ được coi là hợp pháp khi bản di chúc được người lập di chúc viết bằng tay và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản này phải tuân thủ về nội dung của di chúc bằng văn bản quy định tại Điều 653 (Điều 655).

Văn phòng luật tư vấn về luật thừa kế
Trong bất kỳ vấn đề hay lĩnh vực pháp lý nào nói chung và thừa kế nói riêng, nếu bạn muốn có một luật sư hoặc Văn phòng Luật sư đứng ra bảo vệ hay tư vấn trên từng vấn đề, lĩnh vực thì bạn nên chọn luật sư đang hoạt động tại địa phương nơi xảy ra sự việc cần tư vấn, bảo vệ để giảm tối thiểu do chi phí đi lại. Ví dụ: nếu vụ việc xảy ra ở Bình Dương thì nên chọn Luật sư giỏi ở Bình Dương hoặc văn phòng luật sư lâu năm tại Bình Dương được nhiều người tín nhiêm hoặc có kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn, tranh tụng về thừa kế tại Bình Dương, trong trường hợp Văn phòng Luật sư bạn chọn là văn phòng luật sư Trường Thành thi hãy liên lạc với chung tôi theo thông tin

0650.3844.324 – 0913.824.147 
Truongthanh.lawoffice@gmail.com

Tín chấp và pháp luật về tín chấp

Nếu các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ những căn cứ khác nhau, các căn cứ này có thể là sự thỏa thuận, có thể là do quy định của pháp luật, thì biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ có thể phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên trong một giao dịch dân sự. Theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 318 BLDS 2005 thì tín chấp được coi là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự. Văn phòng luật sư Bình Dương xin nói rõ thêm về khía cạnh pháp lý này

Tín chấp là việc tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ.

Tín chấp và pháp luật về tín chấp

Các quy định về biện pháp tín chấp trong BLDS chỉ dừng ở việc quy định nguyên tắc, chưa thật chi tiết, cụ thể về khái niệm của tín chấp, tín chấp chỉ là việc “tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác …”. Theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm thì tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phối hợp với tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp trong việc cho vay và thu hồi nợ và có quyền yêu cầu tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp phối hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc trả nợ (Điều 53 và 54 Nghị định 163/2006/NĐ-CP).

Về đối tượng được vay, BLDS chỉ đề cập đến cá nhân, hộ gia đình nghèo. Theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì cá nhân, hộ gia đình nghèo được bảo đảm bằng tín chấp phải là thành viên của một trong các tổ chức chính trị – xã hội (Điều 49). Những người này có nghĩa vụ:

Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết

Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị – xã hội kiểm tra việc sử dụng vốn vay

Trả nợ đầy đủ cả gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng

Hiện nay BLDS chưa quy định rõ về vai trò cụ thể của tổ chức đứng ra bảo đảm tín chấp. Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định chi tiết hơn về quyền và nghĩa vụ của tổ chức chính trị – xã hội đứng ra tín chấp. Ở đây, những tổ chức này có nghĩa vụ:

  • Xác nhận theo yêu cầu của tổ chức tín dụng về điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, hộ gia đình nghèo khi vay vốn tại tổ chức tín dụng đó
  • Chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn; giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức tín dụng

Những tổ chức tín dụng này có quyền từ chối bảo đảm tín chấp, nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, làm dịch  vụ và trả nợ cho tổ chức tín dụng.

Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự sinh ra để phục vụ cho nghĩa vụ dân sự. Do đó, nó tồn tài bên cạnh nghĩa vụ dân sự được bảo đảm. Tín chấp là một biện pháp mang tính dự phòng. Nghĩa là chỉ áp dụng khi nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng.

 

Văn phòng luật tư vấn về tín chấp
Với những định nghĩa trên, có thể thấy tín chấp và pháp luật về tín chấp không hẵn đơn giản là dựa vào uy tín như nhiều người lầm tưởng, sẽ dễ dàng phát sinh tranh chấp khuất mắc nếu không thực sự hiểu rõ về khía cạnh pháp lý này. Để được tư vấn rõ hơn về nó, hãy liên lạc với văn phòng luật Trường Thành, với đội ngũ luật sư uy tín tại Bình Dương, chúng tôi sẽ cùng giải quyết những vấn đề, khúc mắc pháp lý cũng như đem đến quyền lợi cao nhất cho khách hàng
Liên hệ với chúng tôi qua

0650.3844.324 – 0913.824.147 
Truongthanh.lawoffice@gmail.com

Xác định lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Lỗi là một yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lí của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó. Nói người gây ra thiệt hại phải có lỗi tức là người đó thấy hoặc phải có nghĩa vụ phải thấy trước được hành vi của mình có thể gây thiệt hại cho người khác và hành vi đó là trái pháp luật. Dưới đây là đôi ý của chuyên viên tư vấn về hợp đồng tại Bình Dương chia sẻ khái quát về khía cạnh pháp lý này.

Lỗi còn là yếu tố để xác định một thiệt hại cần phải bồi thường hay không, hành vi gây ra thiệt hại có thể là hành vi vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng hoặc là hành vi trái pháp luật hay không. Vì vậy, trong trách nhiệm bồi thường thiệt  hại ngoài hợp đồng, chứng minh người gây thiệt hại phải có lỗi là một trong các điều kiện cần, để làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

lỗi bồi thường thiệt hại 1

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì dù người gây thiệt hại có lỗi cố ý hay vô ý đều phải bồi thường, vì người gây ra thiệt hại trước khi tiến hành một công việc nào đó phải có nghĩa vụ thấy trước các tác hại có thể xảy ra và phải áp dụng những biện pháp đề phòng. Trước khi thực hiện hành vi người thực hiện phải có nghĩa vụ ý thức được hành vi của mình có thể gây thiệt hại hay không, do đó phải chịu trách nhiệm trước bất kì hình thức nào khi thực hiện hành vi đó. Từ đó có thể kết luận rằng lỗi là một cơ sở pháp lí cho việc bồi thường thiệt hại.

Lỗi cố ý và lỗi vô ý

Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại xảy ra hoặc có thể có trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Có quan điểm cho rằng, các cá nhân trong xã hội đều có quyền được bảo đảm về tính mạng, tài sản cho nên mỗi khi có sự tổn hại xảy ra, người gây thiệt hại đương nhiên phải bồi thường. Trách nhiệm dân sự được xây dựng trên cơ sở lỗi sẽ là giải pháp vừa thỏa mãn đạo lý vừa hợp với lợi ích công cộng.

Mức bồi thường thiệt hại

Điều 605 BLDS 2005 có quy định về mức bồi thường theo nguyên tắc như sau

Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, hoặc hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây ra thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình

Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường

lỗi bồi thường thiệt hại

Khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây ra thiệt hại gồm: Tài sản hiện có, thu nhập hiện tại và tài sản, thu nhập sau này. Nếu có đủ cơ sở để đánh giá mức độ thiệt hại không phải là quá lớn với khả năng kinh tế lâu dài của người gây ra thiệt hại thì họ vẫn phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Điểm c Khoản 2.2 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP cũng nêu rõ: “Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều kiện sau đây:

Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại;

Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt cũng như về lâu dài họ không thể có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó.”

Như vậy, xác định lỗi vô ý hay cố ý của người gây thiệt hại có thể ảnh hưởng tới mức độ bồi thường thiệt hại. Cơ sở xác định lỗi cũng là một điểm đáng lưu ý.

Văn phòng luật tư vấn về hợp đồng
 Để được tư vấn, bảo vệ quyền lợi pháp lý dễ dàng nhất cũng như tiết kiệm chi phí nhất, khách hàng nên chọn cho mình một luật sư giỏi hoặc một văn phòng luật uy tín tại địa phương.  Tại Bình Dương và các vùng lan cận, hãy đến với Trường Thành, là một văn phòng luật lâu năm tại Bình Dương với đội ngũ luật sư tận tụy, kinh nghiệm, chúng tôi đảm bảo quyền lợi pháp lý cao nhất cho khách hàng
Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

0650.3844.324 – 0913.824.147 
Truongthanh.lawoffice@gmail.com

Bảo đảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trong đời sống hàng ngày thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của công dân, tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức có thể xảy ra dưới nhiều tác động khác nhau. Cũng có thể đó là những tác động khách quan song cũng có thể do hành vi trái pháp luật của cá nhân mang lại. Do đó nhà nước đã phải sử dụng nhiều biện pháp pháp luật khác nhau để ngăn chặn và khắc phục những hậu quả đó. Văn phòng luật sư Bình Dương Trường Thành xin chia sẻ ý kiến về vấn đề này

Quy định từ Bộ Luật Dân sự

Điều 604 của BLDS 2005 quy định “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Như vậy, một người gây thiệt hại cho người khác thì giữa những người gây thiệt hại và người bị thiệt hại phát sinh một mối quan hệ pháp luật; trong đó người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường ngược lại người gây ra thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại mà mình đã gây ra. Quan hệ pháp luật đó gọi là nghĩa vụ phát sinh do gây thiệt hại hay còn gọi là trách nhiệm bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng.

Luật sư tư vấn luật hợp đồng thường nêu rõ: trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không chấp hành hoặc chấp hành không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng. Đặc điểm của loại trách nhiệm này là giữa hai bên, bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại phải có quan hệ hợp đồng có hiệu lực và sự thiệt hại phải có quan hệ hợp đồng.bồi-thường-thiệt-hại-đồng

Như vậy, khi gây thiệt hại về tính mạng sức khỏe thì dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không có quan hệ hợp đồng thì thực tiễn xét xử đều áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Có ý kiến cho rằng trong hợp đồng vận chuyển hành khách nghĩa vụ của bên vận chuyển không những phải đưa khách đến nơi mà còn phải đảm bảo đến nơi đúng giờ và sự an toàn của hành khách, nếu trong hành trình của mình xe gây thiệt hại cho người đi bộ và hành khách, chủ xe phải bồi thường thiệt hại cho hành khách theo hợp đồng, ngoài ra còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho người đi bộ.

Trách nhiệm độc lập của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vì của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã kí kết. Trách nhiệm ngoài hợp đồng đưa đến một hệ quả là người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) cho người bị thiệt hại.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng khác với trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng với mọi pháp nhân, cá nhân và các chủ thể khác nhưng trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với mỗi cá nhân. Chế độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có mục đích vừa buộc người gây thiệt hại phải bù đắp những tổn thất đã xảy ra vừa góp phần bảo vệ tài sản cá nhân và tổ chức. Nó có ý nghĩa vừa áp dụng biện pháp bảo đảm quyền dân sự vừa giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật. Tôn trọng và bảo vệ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trách nhiệm dân sự. Như vậy, đây là một trách nhiệm độc lập, không phụ thuộc vào trách nhiệm hình sự. Vì vậy, trường hợp được miễn truy tố hình sự vẫn có thể xét xử về dân sự để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường.

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định rõ ràng từ Điều 604 đến 630 BLDS 2005. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có nhiệm vụ bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của công dân, tài sản, danh dự, uy tín của tổ chức. Đồng thời, trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng có tác dụng giáo dục, phòng ngừa vì bất cứ ai gây ra thiệt hại đều phải có nghĩa vụ bồi thường.

Văn phòng luật tư vấn về hợp đồng
 Để được tư vấn, bảo vệ quyền lợi pháp lý dễ dàng nhất cũng như tiết kiệm chi phí nhất, khách hàng nên chọn cho mình một luật sư giỏi hoặc một văn phòng luật uy tín tại địa phương.  Tại Bình Dương và các vùng lan cận, hãy đến với Trường Thành, là một văn phòng luật lâu năm tại Bình Dương với đội ngũ luật sư tận tụy, kinh nghiệm, chúng tôi đảm bảo quyền lợi pháp lý cao nhất cho khách hàng
Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

0650.3844.324 – 0913.824.147 
Truongthanh.lawoffice@gmail.com

Tư vấn xác định mức bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Chúng ta biết rằng bất cứ một sự vi phạm pháp luật nào cũng đem đến cho xã hội một sự thiệt hại nhất định vì ít nhất nó cũng làm cho trật tự pháp luật trong xã hội không ổn định, đe dọa những điều kiện tồn tại bình thường của các quan hệ trong xã hội. Tuy nhiên những thiệt hại như vậy không phải lúc nào cũng đưa đến việc phát sinh trách nhiệm bồi thường. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản có thể trị giá được bằng tiền và sự thiệt hại về tinh thần, sức khỏe, tính mạng do hành vi xâm phạm gây ra. Luật sư Bình Dương xin chia sẻ thêm về vấn đề pháp lý này

Như đã trình bày ở trên, thiệt hại là một yếu tố cấu thành của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Không có thiệt hại thì không phát sinh trách nhiệm bồi thường. Thiệt hại là một điều kiện bắt buộc phải có làm cho trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác với trách nhiệm hình sự.

Trong trách nhiệm hình sự đối với một số tội có cấu thành hình thức thì không đòi hỏi phải có hậu quả vật chất. Ngay cả một số tội có cấu thành vật chất thì trong một số trường hợp cá biệt hậu quả chưa xảy ra nhưng do tính chất của hành vi nguy hiểm có khả năng gây ra hậu quả lớn cũng đã cấu thành tội phạm hoặc ngược lại đối với một số tội như thiếu tinh trần trách nhiệm hoặc vi phạm luật lệ giao thông thì phải có hậu quả nghiêm trọng mới cấu thành tội phạm. Nhưng trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại này, dù thiệt hại không nghiệm trọng vẫn phải bồi thường. Mức bồi thường được xác định căn cứ trên mức thiệt hại.

Mức bồi thường dựa trên tài sản bị thiệt hại

Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát và giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ. Thiệt hại về tài sản có thể được tính toán thành một số tiền nhất định, bao gồm các khoản sau: những chi phí bỏ ra bao gồm chi phí về ngăn chặn, hạn chế thiệt hại hoặc khắc phục thiệt hại như tiền thuốc, tiền điều trị, tiền mai táng phí, tiền sửa chữa tài sản; những hư hỏng mất mát về tài sản; những thu nhập không thu được. Những thu nhập không thu được này chính là những thu nhập mà lẽ ra người bị thiệt hại nếu không xảy ra thiệt hại sẽ thu được. Thu nhập không thu được gồm có thu nhập bị mất và thu nhập bị giảm sút.

Mức bồi thường thiệt hại dựa trên sự thiệt hại thực tế

Thế nào là sự thiệt hại thực tế? Sự thiệt hại thực tế là thiệt hại có thể tính toán được. Vì vậy, thiệt hại thực tế không bắt buộc phải xảy ra. Một sự thiệt hại gián tiếp cũng được cho là thiệt hại thực tế nếu như nhất định sẽ xảy ra và ước lượng được. Ngược lại, sự thiệt hại không thực tế tức là không chắc chắn xảy ra hoặc chỉ có tính giả định, thiệt hại này không được bồi thường.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp về tinh thần.

Thiệt hại vật chất đã được định rõ tại Khoản 2 Điều 307 Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, khi luật sư giỏi tư vấn luật hợp đồng vẫn phải nhắc đến khoản 3 điều này cũng quy định về thiệt hại tinh thần nhưng chưa rõ rệt. Quy định này như sau: “Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó ngoài chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại”. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại điểm 1.1 Khoản 1 nêu rõ: “thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích, gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm,… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu”“thiệt hại do tổn thất về tinh thần pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin,… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu”.

Mặc dù BLDS đã ghi nhận bồi thường thiệt hại về tinh thần nhưng đến nay việc bồi thường thiệt hại về tinh thần còn những quan điểm khác nhau và chưa thống nhất. Pháp luật dân sự của các nước cũng có những quy định khác nhau về vấn đề này. Một số quan điểm chấp nhận việc bồi thường và một số quan điểm không chấp nhận bồi thường. Một số người cho rằng, thiệt hại về tinh thần chỉ là khái niệm xã hội, không thể tiền để chuộc lại hay mua được. Như vậy, tùy vào từng trường hợp cụ thể mới có thể xác định được mức bồi thường thiệt hại. Cơ sở rõ ràng nhất để xác định chính là thiệt hại về vật chất.

Văn phòng luật tư vấn về luật hợp đồng
Nếu muốn có luật sư bảo vệ hay tư vấn trên từng vấn đề lĩnh vực thì nên chọn luật sư đang hoạt động tại địa phương nơi xảy ra sự việc cần tư vấn , bảo vệ, việc này sẽ giúp giảm thiểu chi phí cũng như việc đảm bảo quyền lợi pháp lý cho bạn được thuận tiện hơn. Là văn phòng luật sư uy tín tại Bình Dương, Trường Thành đã dang và sẽ cùng khách hàng vượt qua những khó khăn, khúc mắc pháp lý, đem đến lợi ích cao nhất trong từ vụ sự.
Liên hệ với chúng tôi qua

0650.3844.324 – 0913.824.147 
Truongthanh.lawoffice@gmail.com

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm của người bồi thường

Nếu trách nhiệm trong hợp đồng là trách nhiệm do vi phạm những nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng mà hai bên đã cam kết thực hiện vi phạm nghĩa vụ đã tồn tại trước đó. Nhưng không phải cứ hai bên có quan hệ hợp đồng thì mọi thiệt hại gây ra đều đưa đến trách nhiệm trong hợp đồng, và ngược lại, trách nhiệm ngoài hợp đồng không nên hiểu là giữa hai bên hoàn toàn không có quan hệ hợp đồng. Văn phòng luật sư Bình Dương Trường Thành sẽ chia sẻ một số ý về các tình huống pháp lý liên quan đến luật hợp đồng này

Khi nào phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?

Trách nhiệm nào cũng vậy, dù là hình sự, dân sự hay hành chính bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cơ sở đó là một thể thống nhất, bao gồm: có thiệt hại xảy ra; hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật; phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại và thiệt hại xảy ra; phải có lỗi của người gây thiệt hại. Nếu thiếu một trong bốn điều kiện nói trên thì không đủ cơ sở pháp lý để yêu cầu người gây thiệt hải phải bồi thường. Trách nhiệm ngoài hợp đồng đưa đến một hệ quả là người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) cho người bị thiệt hại, ngược lại thì người gây ra thiệt hại trong hợp đồng chỉ phải bồi thường những thiệt hại trực tiếp và những thiệt hại có thể đoán trước được khi kí kết hợp đồng. Trong trường hợp thiệt hại ngoài hợp đồng do nhiều người gây ra thì họ đương nhiên phải chịu trách nhiệm liên đới. Nhưng trong hợp đồng thì các bên chỉ phải chịu trách nhiệm liên đới nếu có thỏa thuận trước.

 bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?

Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Từ Điều 604 đến Điều 630 Bộ Luật Dân Sự 2005 quy định về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường có nhiệm vụ bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của công dân, tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức bằng hai cách: 1. Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại bồi thường bao gồm: Tài sản bị mất; tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng; khai thác tài sản; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, và khắc phục thiệt hại. Nếu bị thiệt hại về tài sản thì người có tài sản có quyền yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường bằng một số tiền hay thay thế bằng tài sản tương đương hoặc sửa chữa tài sản đã bị hư hỏng để khôi phục giá trị sử dụng như tình trạng ban đầu.

Trường hợp gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Ngoài ra, luật sư tư vấn luật hợp đồng còn phải nhấn mạnh người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất tinh thần mà người đó gánh chịu, vì vậy có thể nói quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm góp phần bảo vệ tính mạng, sức khỏe của công dân.

Tất nhiên trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không chỉ dừng lại ở mục đích bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của công dân; tài sản, danh dự, uy tín của tổ chức mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục công dân, phòng ngừa tội phạm vì bất cứ cá nhân nào khi gây ra thiệt hại cho người khác đều phải có nghĩa vụ bồi thường.

 

Văn phòng luật tư vấn về Hợp Đồng
Nếu muốn có luật sư bảo vệ hay tư vấn trên từng vấn đề lĩnh vực thì nên chọn luật sư đang hoạt động tại địa phương nơi xảy ra sự việc cần tư vấn đưa ra. Ví dụ nếu vụ việc xảy ra ở Bình Dương thì nên chọn một  văn phòng luật uy tín tại Bình Dương, trong trường hợp VPLS bạn chọn là văn phòng luật sư Trường Thành thì hay gọi điện thoại vào đường dây nóng của VPLS Trường Thành Bình Dương  có trên website hoặc gửi yêu cầu tư vấn trực tiếp qua website để được tư vấn cụ thể hơn.